PDA

Xem bản đầy đủ : “Thư pháp chữ Việt” có phải là nghệ thuật?


LeHai
06-03-2009, 04:11 PM
Viết chữ Thư Pháp có thể khẳng định hầu hết các nhà thư Pháp đều coi là 1 nghệ thuật nhưng có nhiều người không am hiểu mấy về bộ môn nghệ thuật này cũng cầm bút viết nên các tác phẩm ""bất hủ"". Xin trích 1 bài từ báo Quảng Nam cho mọi người cùng nhau suy ngẫm:

Từ nhiều năm nay, “Thư pháp chữ Việt” xuất hiện ở miền Nam rồi lan dần ra miền Bắc. Các “nhà thư pháp Việt” viết loằng ngoằng, méo mó bằng bút lông, mực Tàu... những bài thơ, câu thơ, những châm ngôn, tục ngữ Việt mà mình yêu thích lên giấy hồng điều, giấy rô-ky khổ lớn, rồi tặng nhau. Nhưng đó có thực sự là “thư pháp”?
http://img.photo.zing.vn/file_uploads/gallery/w642h/q42008/2009/03/06/04/35721236330109.jpg

Viết và bày bán “thư pháp chữ Việt” trên đường phố Tam Kỳ.
Nhiều nhà thơ còn in những trang thư pháp vào tập thơ mới xuất bản của mình, coi như những minh họa cho thêm phần “sang trọng”. Trong các dịp Festival Huế từ năm 2000 đến nay, các “nhà thư pháp” đều mở những gian trưng bày thư pháp Việt, rồi ngồi viết “thư pháp Việt” trên giấy, trên gỗ, trên gốm… để tặng (hoặc bán) cho khách thăm quan. Có người còn “thư pháp” cả Truyện Kiều (Nguyễn Du) bằng chữ quốc ngữ dài mấy trăm mét giấy, và được báo giới ca ngợi là một “công trình văn hóa”. Ở nhiều ki-ốt văn hóa phẩm thấy bày bán những bức “thư pháp chữ Việt” viết các chữ Phúc, Nhân, Lễ, Nghĩa... Nhiều nhà xuất bản còn xuất bản lịch “thư pháp chữ Việt” viết về 14 lời răn của Phật... Ngay ở Quốc Tử Giám (Hà Nội), nơi văn hóa tôn nghiêm nhất của đất nước, người ta cũng mở các quầy bán thư pháp chữ Việt cho du khách. Nghĩa là “thư pháp chữ Việt” cũng có người ngộ nhận nên vẫn có nhu cầu, đã đến lúc cần làm sáng tỏ.
Hẳn nhiên, tất cả những “trò chơi viết chữ“ đó đều do ý thích của từng người. Có người “trưởng giả học làm sang”, cũng có người chưa hiểu nên bắt chước. Từ lâu, các học giả, các nhà văn, giáo sư ngôn ngữ có danh ở nước ta không ai công nhận “thư pháp chữ Việt” là một nghệ thuật. Có lần ở Huế, người ta tổ chức cuộc triển lãm “thư pháp thơ Bùi Giáng”. Tôi và cố nhà thơ Thái Ngọc San đến xem. Anh Thái Ngọc San đố tôi đọc những câu thơ Bùi Giáng đóng khung sơn son thếp vàng treo trên tường, tôi chịu, không sao đọc được hết câu thơ. Cuối cùng phải lấy cuốn “Thơ Bùi Giáng” ra tra, mới biết đó là câu thơ nào (!). Tôi nghĩ, linh hồn thơ Việt ở trong từng con chữ mà ký tự la-tinh Alexandre de Rhodes đã sáng tạo ra hàng trăm năm nay, chứ không ở cách viết phóng túng kiểu như vậy. Tôi cho rằng kiểu viết chữ Việt như thế là phản văn hóa, phản ngôn ngữ. Thuở nhỏ, thầy dạy chúng tôi tập viết chữ Việt rất kỹ. Trò nào mà viết cẩu thả bị thầy đánh thước vào mu bàn tay đau điếng. Thầy bảo: “Nét chữ thể hiện tính nết con người. Em nào viết chữ không ra hồn thì khó mà thành người tử tế được!”.
Theo tôi hiểu, thư pháp là môn nghệ thuật viết chữ Hán bằng bút lông, với các kiểu chữ Chân, Thảo, Triện, Lệ truyền thống do các nhà thư pháp Trung Hoa sáng tạo ra từ hàng ngàn năm nay. Cái gốc của thư pháp là chữ tượng hình, viết bằng bộ, bằng nét theo quy định chặt chẽ trong một khung chữ. Mỗi chữ Hán như một bức tranh họa hình (họa trong chữ). Viết thư pháp chữ Hán là “nhà thư pháp” phát hiện ra bức tranh đó theo tâm thức của mình bằng những nét bút có thần. Người Trung Quốc cho rằng, thư pháp cũng tùy thời mà tạo chữ, nghĩa là mỗi thời có thể tạo ra cách viết riêng của mình tùy theo tài năng, cảm xúc và nhận thức thời thế... Nhờ thế mà xuất hiện nhiều nhà thư pháp khác nhau, thời nào cũng có. Và chỉ có loại chữ tượng hình như chữ Hán (chữ Nhật, Hàn Quốc, chữ Nôm) mới sản sinh ra nghệ thuật thư pháp. Còn tất cả các loại chữ khác trên thế giới đều không thể “thư pháp” được.
Nhà thơ Hải Trung là một nhà thư pháp chữ Hán có tiếng ở Huế. Hải Trung chỉ viết thư pháp chữ Hán, không bao giờ “thư pháp chữ Việt”. Anh cho rằng, chữ Việt là chữ la-tinh, mỗi ký tự mang nghĩa nhờ âm của ngôn ngữ. Mỗi âm chữ xác định nội dung nghĩa cụ thể, không hề mang tính tạo hình, nên không thể thể hiện bằng lối “thư pháp” được. Cái gọi là “thư pháp tiếng Việt” sẽ làm méo mó, lệch âm chữ Việt. Đó là sự “bắt chước” vô lối. Viết chữ Việt phải viết chân phương, nền nã, chữ ra chữ, dấu ra dấu. Những người viết chữ quốc ngữ đẹp thường được chọn (hoặc thuê) viết bằng khen, quyết định… cho thêm phần trang trọng. Các thế hệ học trò sau này càng ngày viết chữ Việt càng xấu, vì thầy cô giáo không chú trọng dạy viết chữ nắn nót như xưa. Rồi chủ trương “cải cách chữ viết” của Bộ GD-ĐT một thời càng làm cho chữ Việt... thêm xấu. Chữ h, chữ g, chữ k, y… không còn bụng; chữ n, h, l không có nét chân đưa lên... Tất cả những “dị dạng” ấy đã đẩy lùi sự phát triển của chữ Việt nên phải bỏ.
Còn chữ Việt viết láu, viết bay bướm, viết chơi... thường dùng để làm dáng kiểu khi thêu thùa hay tạo nên những tên sách, tít báo cho lạ mắt, nhưng với điều kiện là phải đọc rõ nội dung âm chữ Việt. Nhiều mẫu chữ Việt như vậy cũng được cài đặt trong máy vi tính, nhưng đó không phải “thư pháp”. Trộm nghĩ, có lẽ các “nhà thư pháp chữ Việt” chắc cũng do thú chơi, viết bay bướm chữ Việt rồi nhầm lẫn gọi “thư pháp”. Chơi viết chữ kiểu cách thì ai chơi cũng được, nhưng nếu gọi là “thư pháp” thì nhất quyết không phải. Có nhiều ý kiến đề nghị Bộ GD-ĐT nên có quy định về quản lý cách viết chữ Việt. Chúng tôi nghĩ rằng, chữ Việt là tài sản vô giá của dân tộc, nên rất cần phải có bộ Luật về Tiếng Việt, chữ Việt để bảo tồn văn hóa cho con cháu đời sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các nhà văn Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Tuân... là những nhà trí thức lớn suốt đời ra sức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, tại sao chúng ta lại không học theo những tấm gương ấy?
Theo NGÔ MINH - Nguồn: Báo Quảng Nam (http://www.baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=9496&Itemid=134)

LeHai
06-03-2009, 04:17 PM
Còn đây là bài không đồng tình của Phú Mỹ. Xin trích nguyên văn từ Báo Quảng Nam (http://www.baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=9591&Itemid=134):

"Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả Ngô Minh, rằng thư pháp là một nghệ thuật viết chữ Hán bằng bút lông. Tuy nhiên, tôi không đồng tình khi từ "lý thuyết" đó, tác giả lên tiếng phản đối hơi nặng lời trước hiện tượng một số người chơi "thư pháp chữ Việt".
Xưa nay, mỗi loại hình nghệ thuật đều có một phát tích riêng, là tài sản trí tuệ của một quốc gia, dân tộc nào đó. Tuy nhiên, trong quá trình tồn sinh của mình, chúng lan tỏa và được cải biến thành những dạng thức khác nhau thông qua tư duy thẩm mỹ và cảm quan nghệ thuật của từng quốc gia, dân tộc và thời đại khác nhau. Việc một bộ môn nghệ thuật nào đó trở thành tài sản chung của nhiều quốc gia, dân tộc hay của cả nhân loại chính là biểu hiện của quy luật phát triển - một quy luật mang tính tất yếu... Với tư cách là một nghệ thuật, "thư pháp" hoàn toàn có thể duy trì và phát triển theo quy luật ấy. Do vậy, nó có thể được nhiều dân tộc sử dụng như một công cụ nghệ thuật để "trình diễn" chữ viết, ngôn ngữ của mình, miễn là không làm biến dạng, méo mó các quy chuẩn nghệ thuật vốn có.
Với đặc tính tượng hình, chữ Hán có lợi thế đặc biệt khi được thể hiện qua nghệ thuật thư pháp. Chẳng hạn như chữ "môn", nhìn vào là thấy "cái cổng" ngay, nên khi nó được "vẽ" ra, được "thư pháp", hình ảnh "cái cổng" càng hiển hiện rõ hơn. Tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh, nghĩa không biểu đạt trên "ngoại hình" của chữ, nhưng nếu cần "thư pháp", người ta vẫn có thể làm cho chữ "cổng" có hình dáng của... cánh cổng, với đầy đủ các âm tiết phải có của từ này. Tất nhiên, giữa việc viết đúng nghệ thuật "thư pháp" với việc gò ép cho nó có vẻ "thư pháp" là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau và có ranh giới rất mong manh. Ngay trong chữ Hán, giữa việc viết thông thường với viết "thư pháp" cũng có lằn ranh mong manh ấy, bởi do đây là chữ tượng hình nên ở một mức độ nào đó, viết cũng giống như là... "vẽ"!
Cũng trong bài viết nói trên, tác giả Ngô Minh cho rằng cái gọi là "thư pháp chữ Việt" là sự "bắt chước", là "phản văn hóa, phản ngôn ngữ". Tôi nghĩ nói như thế là quá nặng và không xác đáng, bởi văn hóa nói chung và nghệ thuật nói riêng là thứ không thể bắt chước được mà chỉ có vận dụng, tiếp thu và sáng tạo theo cách riêng mà thôi. Chúng ta có điện ảnh, có tranh trừu tượng, có tân nhạc, có pop-rock... mang phong cách Việt Nam, song không phải do "bắt chước" mà là kết quả của cả một quá trình du nhập, tiếp thu có chọn lọc đấy chứ!... Việc tác giả Ngô Minh không thể đọc hết câu thơ của nhà thơ Bùi Giáng được viết dưới dạng "thư pháp", theo tôi nghĩ là một việc bình thường, không nên quy kết rằng xảy ra việc ấy là vì tiếng Việt là ngôn ngữ không nên "thư pháp" mà lại đem "thư pháp" quá phóng túng. Trong thực tế, có rất nhiều bản "thư pháp" chữ Hán mà ngay cả người Hán cũng không thể đọc nổi, bởi nó không được viết bằng kiểu "chân" phổ thông mà theo kiểu "thảo" linh hoạt, bay bướm. Thậm chí, nếu kiểm đếm cho rạch ròi, chi li thì có một số bản "thư pháp" còn bị mắc một lỗi cơ bản là… thiếu nét. Nói theo cách của tác giả Ngô Minh, hẳn đây cũng là sự "phản văn hóa, phản ngôn ngữ"?...
Trộm nghĩ, là người Việt, sinh ra, lớn lên và hoàn thiện tư duy, nhân cách nhờ vào tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt, thì việc ai đó chọn một chữ Việt được viết kiểu cách theo kiểu gọi là "thư pháp" để treo trong nhà kể cũng chính đáng đấy chứ. Và, việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy tiếng Việt; làm cho tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp đâu chỉ có mỗi việc là phải viết chữ Việt cho "chân phương, nền nã, chữ ra chữ, dấu ra dấu", mà còn phải góp phần làm cho vốn tiếng Việt nhiều lên và phong phú hơn về mặt tạo hình (hình thức)… Chưa thấy ai khẳng định, thừa nhận trong tiếng Việt, chữ Việt có cái gọi là "thư pháp", song có lẽ đừng nên vì thế mà lớn tiếng chê bai, phê phán phong trào viết và chơi chữ Việt "kiểu cách" theo cái gọi là "thư pháp". Nếu chúng ta cùng ngồi lại với nhau, tìm cho cái thú chơi mới mẻ ấy, lối viết chữ ấy một tên gọi thật đúng, thật sát thì có phải hay hơn không?..."

Còn ý kiến của bạn thì sao nhỉ?

red
18-02-2010, 06:45 PM
Chỉ có những người có tâm với thư pháp mới có quyền hiểu đó là một bộ môn nghệ thuật.Đáng nhẽ ra đó phải là một con số không nhỏ,nếu như thôi đi một con số không nhỏ những "nhà cầm bút" đang vẽ nghệch ngoạc trên giấy...:o040:

Chân Trần
23-02-2012, 09:39 AM
Thư pháp chữ Hán và Thư pháp Quốc ngữ

Hiện nay còn có những quan điểm khác biệt giữa Thư pháp chữ Hán và Thư pháp viết bằng chữ Quốc ngữ, bản thân chưa hiểu biết nhiều nên không dám lạm bàn. Dưới đây là một bài viết tưởng chừng không có liên quan đến vấn đề này, song nó mang lại cho chúng ta nhiều điều suy ngẫm, mời các bạn xem qua:

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/foru...ffensive.shtml

Chân Trần
23-02-2012, 04:00 PM
Những giai thoại một thời về thơ cũ, thơ mới ít nhiều cũng giúp cho chúng ta có một cách nhìn lạc quan hơn về phong trào Thư pháp ở nước ta hiện nay:

Chuyện vui bên lề cuộc bút chiến thơ mới và thơ cũ

Năm 1932 được xem như cái mốc của phong trào thơ mới khi cụ Phan Khôi "trình chánh giữa làng thơ" bài thơ mới đầu tiên Tình già đăng trên báo Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 làm xôn xao dư luận. Thế là bùng lên một phong trào chống đối thơ mới từ những nhà cựu học.

Điều đáng chú ý là cụ Phan Khôi (1887-1959) - cháu ngoại của cụ Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu - vốn xuất thân là nhà cựu học, đã từng đỗ tú tài chữ Hán năm 18 tuổi nhưng lại cổ vũ cho phong trào thơ mới. Năm 1928, trên Đông Pháp thời báo, cụ Phan Khôi đã dám táo bạo chê luật thơ cũ của ta la trói buộc, tù hãm. Sau khi bài thơ Tình già xuất hiện trên báo, phái thơ cũ phản ứng mạnh mẽ. Thi sĩ Tùng Thành viết bài thơ Nhàn ngâm đả kích nặng nề:

"Trách bác Phan Khôi khéo rắc rối,/ Noi gương Hồ Thích (1) làm thơ mới/ Câu dài, câu ngắn chẳng ra sao,/ Vần đụp, vần đơn nghe thật thối,/ Hăng hái, Thị Kiêm (2) diễn thuyết khen,/ Nhiệt thành, Thế Lữ lao công mãi./ Phải chăng muốn diễn ý tân kỳ?/ Hay tại làm thơ cũ kém giỏi?"

Thật ra không phải Phan tiên sinh làm thơ cũ kém giỏi, thơ Đường của cụ cũng rất hay (như bài Ngẫu cảm, Viếng mộ ông Lê Chấu) nhưng vì cụ không muốn gò bó trong phép làm thơ nên mới đề xướng ra cách làm thơ mới.

Sau Phan Khôi, hàng loạt nhà thơ mới có tài bắt đầu xuất hiện trên thi đàn làm cho vị trí của thơ mới ngày càng vững: Thế Lữ (tức Lê Ta), Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp... Trước tình hình ấy, phái thơ cũ không tiếc lời chỉ trích, chê bai thơ mới:

"Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn,/ Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ./ So với Á học như dưa đắng,/ Sánh với Âu văn tựa mít xơ..."

Họ cho rằng những người làm thơ mới đều bất tài, không làm nổi thơ luật nên mới phải làm thơ mới, là một loại thơ dễ dãi về kỹ thuật, đó là những người chẳng hiểu gì về thơ cả:

"Lạy bác xin đừng nói đến thi,/ Nghĩa thi chưa hiểu, hãy im đi".

và họ gọi những nhà thơ mới là bọn mù và dốt:

"Chẳng khác anh mù lại nói mơ,/ Chẳng qua một bọn dốt làm thơ".

(Những bông hoa trái mùa của Tường Vân và Phi Vân)

Dần dần, báo chí bị lôi vào cuộc và hình thành hai phe rõ rệt. Phe bênh vực thơ cũ có các báo: An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Văn học tuần san, Công luận, Tiếng dân, Tin văn... Phe bênh vực thơ mới có: Phong hoá, Ngày nay, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Loa, Hà Nội báo..., trong số này, báo Phong hoá là "hùng hổ" nhất. Và nhóm Tự lực văn đoàn vốn chủ trương theo mới dĩ nhiên đứng vào hàng ngũ của những nhà thơ mới.

Tản Đà lúc đầu rất thận trọng, có ý muốn đứng ngoài. Tuy chẳng ưa gì thơ mới nhưng ông không để cơ quan ngôn luận của mình là tờ An Nam tạp chí tấn công thơ mới. Mãi đến cuối năm 1932, thấy báo Phong hoá làm quá, ông mới cho đăng lên báo An Nam tạp chí số 6 một bài thơ Ông Tản Đà nhắn bạn Phong hoá (Tửu nhập thi xuất) nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì đến thơ mới cả:

"Mấy lời nhắn bảo anh Phong hoá,/ Báo đến như anh thật láo quá!/ Từ tháng đến năm không ngớt mồm,/ Sang năm Quí Dậu (1993) phải kiếm khoá./ Ông nỉnh ông ninh có liệu mà.../ Tái tứ tái tam đừng trách nhá!/ Chút tình đồng nghiệp bảo cho nhau,/ Nhờ gió thổi đi mong cảm hoá".

Gặp dịp tốt, lập tức báo Phong hoá số 28 (30/12/1932) phản ứng ngay bằng cách đăng bài hoạ nguyên vận để đả kích Tản Đà:

"Anh lên giọng rượu khuyên Phong hoá,/ Sặc sụa hơi men khó ngửi quá./ Đã dạy bao lần, tai chẳng nghe,/ Hẳn còn nhiều phen mồm bị khoá./ Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu,/ Lưỡi ngắn thì nên co lại nhá!/ Phong hoá mà không hoá nổi anh,/ Tuý nhân quả thật là nan hoá!"

Sau bài thơ hoạ nguyên vận trên đây, báo Phong hoá còn đăng nhiều bài đả kích Tản Đà vì coi Tản Đà là lãnh tụ của phái thơ cũ như bài Ông Hiếu với thầy Nhan Hồi của Tứ Ly (Hoàng Đạo), bài thơ của Vân Dương nói xỏ xiên Tản Đà, vở hài kịch Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly chế giễu không chỉ Tản Đà mà cả các ông Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Tiến Lãng, Dương Bá Trạc, Nguyễn Công Tiến, Trịnh Đình Rư, Lê Công Đắc... là những nhà văn nhà thơ cũ.

Sau Tản Đà, đến lượt Á Nam Trần Tuấn Khải, một nhà thơ lừng danh thời trước, cũng bị Việt Sinh lôi ra làm bia chế giễu. Việt Sinh viết:

"Trong sách Chơi xuân của Nam ký, ông Á Nam vì xuân làm bài thơ xuân rất hay, rất mới: "Một đời dược mấy gang tay,/ Một năm được mấy mươi ngày là xuân./ Gặp xuân ta phải chơi xuân,/ Kẻo mai hạ tới là xuân không chờ".

Hay tuyệt! Câu đầu cả ý lẫn chữ là câu sáo cũ. Câu thứ hai cũng hay như câu thứ nhất. Câu thứ ba cũng hay như câu thứ hai. Còn câu thứ tư không hay thì là của ông Á Nam!".

Năm 1934, khi cuộc bút chiến đã đến hồi gay gắt, trên báo Phụ nữ tân văn số xuân năm ấy, Tản Đà có một bài "hài đàm" nói móc Phan Khôi vốn là người đã từng "đụng độ" với ông mấy lần về vụ Nho giáo, vụ "Cái cười của con Rồng cháu Tiên". Bài hài đàm mở đầu bằng một đoạn văn xuôi rồi kết thúc bằng một bài "thơ mới":

"Đờn là đờn/ Thơ là thơ/ Thơ thời còn có chữ, đờn có tơ/ Nếu không phá cách, vứt điệu luật/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ/ Bá Nha xa/ Lý Bạch khuất/ Thơ có họ Phan, đờn họ Quách/ Thơ có chữ/ Đờn có tơ/ Đờn thì ngớ ngẩn, thơ vẩn vơ/ Tài tử văn nhân thường rứa rứa/ Bút huê ngao ngán bận đề thơ".

Không thấy Phan Khôi trả lời. Điều đáng chú ý là tờ Phụ nữ tân văn trước nay vẫn đứng về phe bệnh vực thơ mới, đã từng đăng bài thơ Tình già của Phan Khôi mà nay lại đăng bài của Tản Đà móc Phan Khôi.

Các nhà thơ mới thường hay chê các nhà thơ cũ ưa dùng những từ ngữ và hình ảnh cũ kỹ sáo mòn: hễ mùa xuân thì trăm hoa đua nở, mùa hạ có tiếng cuốc tiếng ve, mùa thu thì sương sa gió thổi, lá ngô đồng rụng, mùa đông thì tuyết phủ, tuyết ngậm mặc dù ở Việt Nam chẳng bao giờ có tuyết. Nhân Tản Đà cho đăng bài Cảm thu, tiễn thu trong đó có những chữ: gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, lá thu rơi rụng đầu ghềnh, cỏ vàng cây đỏ..., Tú Mỡ bèn làm một bài hát nói khôi hài để chế giễu lối làm thơ sai sự thực, trong đó có mấy câu:

"Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,/ Bói đâu ra lác đác ngô vàng./ Trên đường đi nóng dẫy như rang,/ Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!"

Trên báo Phong hoá số 31, Nhất Linh chế giễu thơ của Phương Lang, một nhà thơ cũ:

"Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lang và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa: Mặt bẩn sao chưa lau?/ Con ra lấy cái thau./ Đổ nước, mang khăn mặt,/ Mau!

Thơ như thế sao gọi là thơ được? Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Nó cũng như thơ con cóc mà thôi. Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang làm bài thơ theo lối ấy:

"Trông vào nồi, cơm hết/ May còn miếng cháy giòn/ Ăn với cá kho mặn,/ Ngon!

(Lạc quan)

"Tay tôi mụn ghẻ đầy,/ May sao gặp thuốc hay./ Bôi được một tuần lễ,/ Khỏi ngay!"

(Mừng khỏi bệnh)

Trên tờ Hà Nội báo ngày 19/2/1936 Lưu Trọng Lư "nở một nụ cười kiêu hãnh" đăng bài thơ thất ngôn sách hoạ chế giễu các nhà thơ cũ:

"Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho,/ Thơ thẩn, thẩn thơ, khéo thẫn thờ./ Nắn nót miễn sao nên bốn vế,/ Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ!"

Không thấy ai hoạ lại, có lẽ hoặc là vì xem thường, hoặc là vì tự ái.

Phong trào thơ mới lên rầm rộ, lấn át hẳn thơ cũ, chiếm địa vị ưu thắng trên thi đàn. Nhưng bên cạnh những bài thơ hay cũng có không ít những bài thơ dở. Khái Hưng, một cột trụ của báo Phong hoátờ báo nhiệt liệt bênh vực thơ mới - có bài đăng trên báo này đả kích những người làm thơ mới quá dễ dãi với mình, cho ra đời những đứa con thiếu tháng. Sau khi vờ tự hỏi "làm thơ dễ hay khó?", ông đã mỉa mai "chỉ độ vài giờ thôi" rồi viết:

"Vì thế kỳ báo này/ Tôi lại/ Viết một câu văn vui đại khái/ Cũng bằng thơ mới/ Nói thơ tự do thì có lẽ phải hơn, vì cứ mỗi lần/ Gặp vần là tôi tự do xuống dòng, bất kỳ câu ngắn/ Hay dài, từ một đến mười hai chữ/ Như thế hẳn/ Chẳng khó khăn gì/ Mà bỗng mình trở nên một nhà thi/ Sĩ/ Rồi các nhà phê bình sẽ/ Tìm ra những cái hay của mình và có lẽ/ Tôn bừa mình lên bậc thi hào/ Thì mình cũng đành nhận chứ biết sao!"

Trong khi đó, nhà thơ Thế Lữ không tranh luận ồn ào, chỉ cặm cụi làm thơ và cho ra đói những bài thơ hay, có chất lượng rất cao như: Nhớ rừng, Tiếng sáo Thiên Thai, Giây phút chạnh lòng..., xây dựng một nền tảng vững chắc cho thơ mới.


Cuộc bút chiến ấy kéo dài đến năm 1936 thì nhạt dần rồi tàn hẳn. Thơ mới nghiễm nhiên chiếm ưu thế trên thi đàn rồi đi vào lớp học, đẩy lùi thơ cũ vào dĩ vãng để nằm im dưới lớp bụi thời gian. Nhưng khi thơ mới đã thắng thế rồi, người ta bắt đầu nghĩ lại và cảm thấy ân hận về những điều đã làm trước đó. Trước kia, ai nấy đều đổ xô vào mỉa mai, châm biếm, chế giễu Tản Đà thì từ năm 1938, Tản Đà được coi như vị thánh sống của làng thơ. Nhất là sau khi Tản Đà từ trần (1939), người ta đua nhau viết bài ca tụng ông như là người có công lớn đối với nền thi ca của dân tộc. Và Hoài Thanh, khi viết cuốn Thi nhân Việt Nam, đã kính cẩn đặt Tản Đà ở đầu trang sách với những lời cung chiêu sang trọng.

Ngay cả nhóm Tự lực văn đoàn trước kia công kích Tản Đà là thế mà nay cũng cho đăng nhiều bài của Văn Bình, Xuân Diệu, Khái Hưng trên báo Ngày nay ca tụng công lao và sự nghiệp văn chương của Tản Đà. Tinh thần hoà giải ấy đã dần dần xoá đi sự hiềm khích giữa hai phái thơ cũ và thơ mới.

Từ đó đến nay cũng đã ngót bảy mươi năm, thơ mới ngày ấy nay đã trở thành thơ cũ. Một thời đại trong thi ca đã khép lại, nhưng dư âm của những ngày sôi động ấy hẳn sẽ còn vang vọng mãi trên thi đàn.

Huyền Viễm (Kiến thức ngày nay)

TPthienson
29-02-2012, 08:16 PM
Thư pháp là phần âm của 2 chữ THƯ và chữ PHÁP. THƯ theo danh từ( trong tiếng hán) nghĩa là "sách", theo động từ nghĩa là " viết". chữ PHÁP nghĩa là " phương pháp". thư pháp ở đây được hiểu là "cách viết chữ( phương pháp viết chữ)" ( chư thư trong thư pháp là động từ). nghệ thuật thư pháp là nghệ thuật viết chữ hay nói cách khác là nghệ thuật thể hiên chữ.
không ai có thể phủ nhận rằng môn nghệ thuật này bắt nguồn từ Trung Hoa( cách đây hơn 3000 năm). Nhưng theo định nghĩa của nó thì không chỉ riêng chữ hán mới được gọi là thư pháp. mọi ngôn ngữ với cách thúc thể hiện riêng biệt, đẹp, vượt ngoài khuôn khổ của nó đều được gọi là thư pháp. nhưng để biến những cái chữ đó thành nghệ thuật mới là vân đề đáng bàn luận.
từ đó chúng ta có thể thấy rằng chữ VIỆT với cách thưc thể hiện riêng, có phương pháp thì đó chính là THƯ PHÁP.còn nó co phải nghệ thuật hay không thì còn tùy vào nhiều yếu tố từ tác phẩm tao ra.
đây là em từng đọc qua một cuốn sách về thư pháp,trong đó không phủ nhận chữ việt không phải là thư pháp và cũng không nói rằng
thư pháp việt không phải là nghệ thuật.